VIỆT NAM  |  ENGLISH  
Trang chủ  >>  Kinh nghiệm
Bookmark and Share
Kinh nghiệm

Hiện tượng hư hỏng của ắc quy (Phần II)

Chuẩn đoán hư hỏng hệ thống nạp.



Máy phát điện được chế tạo để duy trì việc nạp điện một cách liên tục cho ắc quy, không dùng để sạc lại cho ắc quy đã bị chết như nhiều người lầm tưởng. Nếu dùng để sạc lại cho ắc quy đã chết, máy phát sẽ bị quá tải, thậm chí có thể bị cháy.

Luôn kiểm tra hoạt động của hệ thống nạp khi thay thế hoặc sạc lại ắc quy. Một hệ thống nạp làm việc bình thường phải cung cấp một điện thế nạp cho các thiết bị ở quanh mức 14V ở chế độ không tải, các thiết bị điện ở chế độ OFF. Khi khởi động xe lần đầu, điện thế nạp tăng lên rất nhanh lớn hơn điện thế của ắc quy khoảng 2V, sau đó nó giảm xuống.

Độ chính xác của điện thế nạp sẽ thay đổi theo tình trạng của ắc quy được nạp, khả năng tải của hệ thống điện và nhiệt độ môi trường. Nhiệt độ càng thấp, điện thế nạp càng cao hơn và ngược lại, nhiệt độ tăng cao thì điện thế nạp lại càng thấp. Điện thế nạp bình thường được áp dụng có thể từ 13,9 đến 15,1V ở 770F. Nhưng ở nhiệt độ -200F, điện thế nạp ở vào khoảng từ 14,9 đến 15,8 V. Đối với một động cơ đang nóng, làm việc điều kiện nắng nóng, điện thế nạp thông thường ở vào khoảng từ 13,5 đến 14,3V.



Điện thế nạp cũng có thể được kiểm tra bằng cách điều chỉnh trụ than của vôn kế và ampe kế. Trụ than được gắn vào ắc quy và điều chỉnh để nhận được điện thế ra cao nhất trong khi để động cơ chạy ở 2000 vòng/phút.

Cường độ dòng điện nạp cũng là một yếu tố quan trọng. Nó cho biết tình trạng của máy phát. Với động cơ chạy ở chế độ không tải và không có tải các dụng lên hế thống nạp (nghĩa là đèn và các thiết bị điện đều tắt, ắc quy đã được nạp đầy), cường độ dòng sinh ra có thể khá thấp (thường là thấp hơn 10A). Khi bật đèn pha và quạt sưởi, động cơ quay ở 2000 vòng/phút, dòng điện sinh ra sẽ đạt mức cao hơn, thông thường từ 25 đến 30A hoặc cao hơn nữa.

Chú ý: Nếu máy phát trên xe của bạn đã sửa chữa nhiều lần. Điều này có thể do ắc quy không tích được điện một cách bình thường làm cho máy phát phải cấp điện cho ắc quy liên tục ở mức độ cao hơn nhiều so với bình thường. Kết quả là máy phát bị nóng lên, bị quá nhiệt và thậm chí hỏng hẳn. Do vậy dòng điện nạp cho ắc quy phải dần dần giảm đi sau khi động cơ khởi động và thu hẹp dần đến nhỏ hơn 10V ở chế độ không tải (không bật đèn pha và các thiết bị điện) sau khoảng năm phút chạy máy. Nếu ắc quy đã được sạc đầy vẫn còn hút khoảng 20A hoặc hơn nữa sau năm phút ở chế độ không tải, chứng tỏ ắc quy đã bị khuyết tật và cần phải thay thế.

Cảnh báo: Không bao giỡ được phép tháo cáp nối với các cực ắc quy ra trong khi động cơ đang hoạt động để kiểm tra máy phát bởi làm như vậy có thể gây ra một sự tăng vọt điện áp, gây hư hỏng cho máy phát cũng như các thiết bị điện khác.

Sử dụng dao động kế để kiểm tra điện áp của máy phát

Một phương pháp khác để kiểm tra đầu ra của máy phát là sử dụng dao động kế. Nó giúp bạn tính điện áp dư để nhận biết sơ qua rằng liệu tất cả các cuộn dây phần ứng trong máy phát đều hoạt động tốt hay không. Nếu mất điện áp ở bất kỳ một cuộn nào thì chứng tỏ rằng một trong các cuộn dây đã bị hở hoặc có một đi-ốt bán dẫn bị hỏng. Hầu hết các thiết bị kiểm tra hệ thống nạp/ắc quy đều có chức năng kiểm tra tình trạng của đi-ốt bán dẫn.

Chuẩn đoán hư hỏng máy đề.



Những hư hỏng ở máy đề có thể do chổi than bị mòn (miếng cácbon bên trong mô tơ cung cấp dòng điện để làm quay phần lõi), do ngắn mạch hoặc hở mạch bên trong lõi hoặc cuộn dây hoặc có thể do chổi than quá mòn làm tăng lực cản, cho phép trục lõi trà sát vào các má cực. Việc khởi động liên tục hoặc kéo dài sẽ sinh ra quá nhiều nhiệt ở máy đề. Nếu không để nó nguội bớt đi sau khoảng 30 giây hoặc vài phút, máy đề có thể bị hỏng nếu đề liên tục không dừng.



Bạn có thể kiểm tra máy đề trên bệ thử bằng thiết bị phù hợp. Sử dụng một ắc quy và hai dây cáp để khởi động máy đề, quan sát hoạt động của nó. Để kiểm tra chính xác hơn tình trạng của máy đề, bạn phải sử dụng giá thử tiêu chuẩn để có thể đo cường độ dòng điện khi có tải, điện thế và số vòng quay trên một phút.

Một máy đề tốt khi ở chế độ làm việc bình thường cần dòng điện có cường độ từ 60 đến 150A ở chế độ không tải và lên đến 250A khi có tải để khởi động động cơ. Cường độ dòng để khởi động khi không có tải sẽ thay đổi phụ thuộc vào từng loại máy đề. Nếu cường độ dòng vào máy đề quá cao thì nên thay thế máy đề này. Nếu máy đề không tạo được số vòng quay trên một phút theo đùng tiêu chuẩn thì cũng nên thay thế.



Cường độ dòng vào máy đề quá cao có thể do điện trở bản thân nó quá lớn, mòn chổi than, ngắn mạch hoặc hở mạch của cuộn dây bên trong hoặc phần ứng. Nó có thể dẫn đến làm tăng sự ma sát trên trục quay do bị bó hoặc phần cảm bị cọ sát với vỏ máy đề (nếu máy đề phát tiếng kêu chứng tỏ nó đã bị kẹt)

Thỉnh thoảng máy đề làm việc tốt nhưng bánh răng dẫn động bị mẻ nên ăn khớp không tốt với vành răng bánh đà, thường tạo ra tiếng động lạ khi khởi động. Nếu bánh răng dẫn động của nó được thiết kế riêng rẽ thì không cần thiết phải thay thế toàn bộ máy đề.


Cấu tạo máy đề

Cuộn dây điện từ bên trong bị hỏng cũng là nguyên nhân khiến máy đề bị trục trặc. Cuộn dây hoạt động như một rơle để truyền điện từ ắc quy tới máy đề. Nó có thể được gắn trên máy đề hoặc ở một vị trí khác trên động cơ và thường được nối với cực dương của ắc quy bằng cáp nối. Nó thường bị ăn mòn, tiếp xúc kém hoặc cáp nối với cực ắc quy tiếp xúc kém có thể khiến cho cuộn dây không làm việc tốt.

Nếu máy đề được kiểm tra vẫn còn tốt nhưng không thể khởi động được máy thì trục trặc có thể do công tắc khóa điện, công tắc an toàn khởi động hoặc công tắc ly hợp an toàn bị hỏng, ắc quy bị hết điện hoặc cáp nối với ắc quy bị tuột hoặc mòn có thể là nguyên nhân khiến máy đề không khởi động được.

Cập nhật lần cuối:  14/01/2011 04:45:07 PM